Người Nhật từ đâu đến? Từ tiền sử đến thời Heian
Từ chiếc thuyền độc mộc chèo 45 giờ năm 2019 đến những samurai đầu tiên: người Jōmon, lúa nước và chuông đồng dōtaku, nữ vương Himiko, mộ hình lỗ khoá, kinh đô Nara, chữ kana và Truyện Genji.
Bản đồ
Bản đồ minh hoạ do kênh tự vẽ từ dữ liệu Natural Earth (phạm vi công cộng): các địa điểm được nhắc trong video, đường nét đứt xanh là chuyến chèo thuyền độc mộc năm 2019 (Đài Loan – đảo Yonaguni), đường tím chỉ hướng ảnh hưởng của Trường An tới Nara. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam.
Dòng thời gian
- 57
Sách Hậu Hán thư chép: hoàng đế Quang Vũ nhà Hán ban một chiếc ấn cho sứ giả nước Nô. xem trong video (4:57) - Thế kỷ 3
Sách Nguỵ chí kể về nữ vương Himiko, trị vì nước Yamatai. xem trong video (8:31) - 710
Triều đình dời đô về Heijō-kyō (Nara), quy hoạch theo kiểu thành Trường An. xem trong video (17:36) - 752
Lễ khai nhãn tượng Đại Phật ở chùa Tōdai-ji, Nara. xem trong video (16:25) - 794
Thiên hoàng Kanmu dời đô về Heian-kyō (Kyoto ngày nay). xem trong video (21:45) - 938
Ngô Quyền đóng cọc gỗ bịt sắt trên sông Bạch Đằng, trận thuỷ chiến mà video đem ra so sánh với Dan-no-ura. xem trong video (27:47) - 1185
Thời kỳ Heian kết thúc. xem trong video (22:03) - 1784
Nông dân Jinbei nhặt được chiếc ấn vàng ở đảo Shika, vịnh Hakata (ngày 23/2). xem trong video (4:34) - 2019
Năm người chèo thuyền độc mộc đẽo bằng công cụ đá, rời bờ đông Đài Loan (tháng 7). xem trong video (0:00)
Kịch bản chữ
Chép từ phụ đề của video đã đăng.
0:00 · Những người đầu tiên
Tháng 7 năm 2019, 5 người chèo một chiếc thuyền gỗ rời bờ biển phía đông Đài Loan. Chiếc thuyền dài 7 mét rưỡi, được đẽo từ một thân cây tuyết tùng bằng những chiếc rìu mô phỏng công cụ thời đồ đá. Không la bàn, không đồng hồ, họ định hướng bằng mặt trời, các vì sao và hướng sóng. Sau hơn 45 giờ chèo giữa biển khơi, phần lớn thời gian không nhìn thấy đất liền, họ cập đảo Yonaguni, hòn đảo cực tây của Nhật Bản.
Đó là một thí nghiệm của các nhà khoa học Đại học Tokyo, nhằm trả lời một câu hỏi: khoảng 30.000 năm trước, những người đầu tiên đã đến được các hòn đảo phía nam Nhật Bản bằng cách nào? Và từ đó, những cư dân đầu tiên của quần đảo đã sống ra sao, suốt hơn 10.000 năm trước khi biết trồng lúa? Dấu vết đáng tin cậy sớm nhất về con người trên quần đảo có niên đại khoảng 37.000 năm trước. Khi ấy là thời kỳ băng hà, mực nước biển thấp hơn bây giờ rất nhiều, nên trong phần lớn thời gian, Nhật Bản được nối với lục địa châu Á bằng những dải đất liền.
Nhưng để đến được các đảo Ryukyu ở phía nam, khoảng 32 đến 24.000 năm trước, con người buộc phải vượt biển. Trước đó, nhóm nghiên cứu đã thử bè lau sậy và bè tre, nhưng chúng quá chậm và quá mong manh trước dòng hải lưu Kuroshio. Chỉ có thuyền độc mộc là làm được. Nghiên cứu về thời kỳ xa xưa này từng trải qua một cú sốc.
Năm 2000, tờ báo Mainichi công bố những bức ảnh chụp lén một nhà khảo cổ nghiệp dư nổi tiếng, Fujimura Shinichi, đang tự tay chôn hiện vật xuống hố khai quật, để hôm sau "phát hiện" ra chúng. Ông thừa nhận đã làm giả. Cuộc điều tra sau đó kết luận gần như toàn bộ những hiện vật ông từng công bố đều là giả, xoá đi nhiều trang trong sách giáo khoa về thời tiền sử Nhật Bản. Đó là một bài học đắt giá: lịch sử chỉ đáng tin khi được kiểm chứng.
Rồi khoảng 16.000 năm trước, trên quần đảo xuất hiện một thứ thay đổi mọi thứ: đồ gốm. Những mảnh gốm tìm thấy năm 1998 ở di chỉ Odai Yamamoto, có niên đại khoảng 14.500 năm trước Công nguyên, thuộc hàng đồ gốm cổ nhất thế giới. Bề mặt gốm thường được trang trí bằng cách lăn dây thừng lên đất sét còn ướt. Năm 1877, nhà động vật học người Mỹ Edward Morse gọi kiểu gốm này là "văn dây thừng", trong tiếng Nhật là Jōmon.
Từ đó, cả một thời kỳ dài hơn 10.000 năm mang tên ấy. Người Jōmon sống bằng săn bắt, đánh cá và hái lượm, nhưng không hề lang thang. Ở Aomori, nơi ngày nay có lượng tuyết rơi nhiều nhất thế giới, có di chỉ Sannai-Maruyama, một ngôi làng tồn tại khoảng 1.700 năm, từ khoảng năm 3.900 đến năm 2200 trước Công nguyên. Làng rộng khoảng 40 héc-ta, với 648 nhà hầm, những ngôi nhà dài tới 32 mét, kho chứa trên cột và một công trình lớn dựng trên 6 cột gỗ dẻ, đặt cách đều nhau đến mức cho thấy người xưa đã biết đo đạc.
Có thể đã có vài trăm người sống ở đây cùng lúc. Điều thú vị là di chỉ này chỉ được nhận ra tầm quan trọng vào năm 1992, khi người ta định xây một sân bóng chày trên đó. Năm 2021, nó trở thành trung tâm của Di sản Thế giới "Các di chỉ tiền sử Jōmon ở miền Bắc Nhật Bản". Cũng trong những thiên niên kỷ ấy, ở Đông Nam Á có một nền văn hoá săn bắt hái lượm mang tên một địa danh của Việt Nam: văn hoá Hoà Bình.
Cái tên bắt nguồn từ những cuộc khai quật ở tỉnh Hoà Bình của nhà khảo cổ người Pháp Madeleine Colani, công bố năm 1927. Năm 1932, các nhà tiền sử học Viễn Đông chính thức dùng tên ấy cho cả một nền văn hoá trải từ Việt Nam, Thái Lan, Lào đến Malaysia và Sumatra. Ở những lớp đất muộn của văn hoá Hoà Bình, người ta cũng tìm thấy gốm in văn dây thừng. Thời Jōmon kéo dài hơn 10.000 năm, lâu hơn toàn bộ lịch sử thành văn của Nhật Bản cộng lại.
Những người thợ gốm, thợ săn và ngư dân ấy đã sống hoà mình với rừng và biển của quần đảo. Nhưng đến khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, từ bên kia biển, một thứ mới lại cập bến bắc Kyushu, và nó sẽ thay đổi hoàn toàn xã hội nơi đây: cây lúa nước.
4:34 · Lúa nước và kim loại
Ngày 23 tháng 2 năm 1784, một nông dân tên là Jinbei đang sửa mương dẫn nước trên đảo Shika, ở vịnh Hakata thuộc bắc Kyushu. Ông nhặt được một vật nhỏ bằng vàng, mỗi cạnh chỉ hơn 2 cm, nặng khoảng 108 gam. Trên mặt ấn khắc năm chữ Hán, tạm hiểu là: vua nước Nô của người Oa, thuộc nhà Hán. Hơn 1.700 năm trước đó, năm 57, sách Hậu Hán thư chép rằng hoàng đế Quang Vũ nhà Hán đã ban một chiếc ấn cho sứ giả của nước Nô.
Chiếc ấn mà ông Jinbei nhặt được, ngày nay là Quốc bảo của Nhật Bản. Vậy chỉ vài thế kỷ sau khi những làng săn bắt hái lượm thời Jōmon còn thống trị quần đảo, làm sao đã có những "ông vua" ở bắc Kyushu gửi sứ giả sang tận kinh đô nhà Hán? Câu trả lời bắt đầu từ một thứ rất bình dị: cây lúa nước. Khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, theo cách tính truyền thống, kỹ thuật trồng lúa nước có tưới tiêu đến bắc Kyushu từ bán đảo Triều Tiên, rồi lan dần về phía đông.
Một số kết quả đo carbon phóng xạ còn đẩy mốc này lùi về khoảng năm 1000 đến 800 trước Công nguyên, dù điều đó vẫn đang gây tranh cãi. Cùng với lúa là những người di cư từ lục địa. Họ hoà huyết với cư dân Jōmon và trở thành tổ tiên của người Nhật ngày nay. Thời kỳ mới được đặt tên là Yayoi, theo tên một khu phố ở Tokyo, nơi người ta tìm thấy kiểu gốm đặc trưng vào thế kỷ 19.
Lúa nước thay đổi tất cả. Ruộng phải đắp bờ, dẫn nước, cần nhiều người cùng làm và cần được bảo vệ. Lương thực dự trữ được, nên dân số tăng nhanh. Một số học giả cho rằng dân số quần đảo tăng thêm khoảng 4 triệu người giữa 2 thời kỳ, nhiều đến mức không thể chỉ giải thích bằng người di cư, mà phải nhờ chế độ ăn dựa trên lúa gạo.
Đi cùng lúa là kim loại. Người Yayoi đúc gương, vũ khí và đặc biệt là những chiếc chuông đồng gọi là dōtaku. Hơn 400 chiếc đã được tìm thấy, chủ yếu ở miền tây Honshu, vùng Kansai và Shikoku. Chúng được trang trí hình hươu, chuồn chuồn, nhện, cảnh săn bắn, cảnh giã gạo và những nhà kho trên cột.
Kỳ lạ là chúng phát ra âm thanh rất đục, có lẽ không dùng để rung, mà là vật nghi lễ cầu mưa, cầu mùa, và thường được chôn xuống đất. Đến khoảng thế kỷ thứ nhất, công cụ và vũ khí bằng sắt đã được dùng phổ biến. Với người Việt, những chiếc chuông ấy gợi nhớ một thứ rất quen: trống đồng Đông Sơn. Được đúc từ khoảng năm 600 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 3, khởi nguồn ở đồng bằng sông Hồng, trống đồng cũng là vật nghi lễ của cư dân trồng lúa, dùng trong lễ cầu mưa, cầu mùa.
Trên mặt trống Ngọc Lũ, tìm thấy năm 1893 ở Hà Nam, có cảnh người giã gạo, cùng hươu, chim và cò. Không có bằng chứng nào cho thấy 2 thứ đồ đồng ấy có liên hệ với nhau. Nhưng chúng cho thấy, ở 2 đầu của vùng trồng lúa châu Á, người xưa đã gửi gắm những ước vọng rất giống nhau vào đồng. Nhưng lúa gạo và kim loại cũng mang đến một thứ mới: chiến tranh.
Kho lúa trở thành của cải, và của cải cần được giữ. Những ngôi làng bắt đầu đào hào, dựng hàng rào, xây tháp canh. Ở di chỉ Yoshinogari tại Saga, ngôi làng được bao bọc bởi một hào kép dài khoảng 2 cây số rưỡi, có hàng rào gỗ, luỹ đất và tháp canh. Người ta còn tìm thấy những bộ xương mang vết thương, có cái vẫn cắm đầu mũi tên, có cái mất phần đầu, dấu vết của những cuộc xung đột thời ấy.
Từ những làng có hào ấy, các thủ lĩnh dần trở thành "vua" của những tiểu quốc, như vua nước Nô đã nhận chiếc ấn vàng. Đến thế kỷ thứ 3, sách Nguỵ chí của Trung Hoa kể về một nữ vương tên là Himiko, trị vì nước Yamatai. Sau nhiều thập kỷ các vua người Oa đánh nhau, dân chúng tôn bà, một nữ pháp sư không chồng, lên làm vua. Bà hiếm khi xuất hiện, có khoảng 1.000 nữ hầu, và một người em trai giúp bà cai quản việc nước.
Năm 238, sứ giả của bà đến kinh đô nước Nguỵ và được phong danh hiệu "Thân Nguỵ Oa vương", kèm một chiếc ấn vàng. Khi bà mất, người ta đắp một gò mộ lớn. Nhưng Yamatai nằm ở đâu thì đến nay vẫn là một trong những cuộc tranh luận lớn nhất của sử học Nhật Bản: ở bắc Kyushu, hay ở vùng Kinki quanh Nara? Nhiều học giả nghiêng về gò mộ Hashihaka ở Nara, nhưng điều đó vẫn chưa được chứng minh.
Chỉ trong vài thế kỷ, cây lúa nước và kim loại đã biến quần đảo thành một thế giới khác: dân số đông hơn, làng có hào, có vua, có chiến tranh, và có những sứ giả vượt biển sang Trung Hoa. Và những gò mộ như của Himiko báo hiệu một thời kỳ mới, khi các vị vua quyền lực đến mức xây những ngôi mộ khổng lồ, nhìn từ trên cao có hình lỗ khoá.
9:38 · Mộ lỗ khoá và ngôi chùa đầu tiên
Giữa những dãy nhà phố ở thành phố Sakai, gần Osaka, có một khu rừng kỳ lạ. Nhìn từ trên cao, nó có hình một chiếc lỗ khoá, đầu vuông, đuôi tròn, được bao quanh bởi 3 vòng hào nước. Đây là mộ Daisen, gò mộ dài khoảng 525 mét, lớn nhất Nhật Bản. Diện tích nền của nó còn lớn hơn cả kim tự tháp Khufu ở Ai Cập.
Người ta tin rằng đây là lăng của Thiên hoàng Nintoku, được đắp vào giữa thế kỷ thứ năm. Nhưng điều đó chưa bao giờ được kiểm chứng, vì ngôi mộ do Cơ quan Hoàng gia quản lý và không ai được phép bước lên. Phải đến năm 2018, lần đầu tiên các nhà khảo cổ bên ngoài mới được cùng đào thăm dò, và cũng chỉ ở phần chân gò. Vậy ai có đủ quyền lực để huy động cả một vùng đắp nên những ngọn đồi nhân tạo như thế?
Và chỉ vài thế kỷ sau, vì sao chính những người ấy lại bỏ mộ lớn, quay sang xây chùa? Khoảng từ năm 300, quần đảo bước vào thời Kofun, nghĩa là "mộ cổ". Năm 1985, công ty xây dựng Obayashi thử tính xem đắp mộ Daisen bằng sức người thời xưa sẽ tốn bao nhiêu công. Họ ước tính phải đào đắp khoảng một triệu 400.000 mét khối đất, lúc cao điểm có khoảng 2.000 người làm việc mỗi ngày, kéo dài hơn 15 năm, và cần khoảng 15.000 tượng đất nung để xếp quanh gò.
Một công trình như thế chỉ có thể là việc của một quyền lực rất lớn. Mộ Daisen không đơn độc. Đến năm 2001, người ta đã ghi nhận hơn 160.000 di tích mộ cổ trên khắp Nhật Bản, trong đó có khoảng 5.000 mộ hình lỗ khoá, kiểu mộ chỉ có ở Nhật. Những gò lớn nhất tập trung ở vùng Nara và Osaka, rồi kiểu mộ ấy lan dần tới Kyushu ở phía tây và Kanto ở phía đông.
Năm 2019, nhóm mộ cổ Mozu và Furuichi, trong đó có mộ Daisen, được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Trên và quanh các gò mộ, người ta xếp những tượng đất nung gọi là haniwa: hình ống, hình ngựa, nhà cửa, vũ khí và con người. Chúng đánh dấu và canh giữ khu vực thiêng của người đã khuất. Từ những tượng ấy, ta biết người thời Kofun đã cưỡi ngựa, mặc giáp và đội mũ trụ.
Những người đứng sau các ngôi mộ ấy tự xưng là đại vương, liên minh của các thủ lĩnh quanh vùng Yamato, tức tỉnh Nara ngày nay. Bằng chứng rõ nhất về tầm với của họ là một thanh kiếm sắt. Năm 1968, thanh kiếm được tìm thấy trong mộ Inariyama ở Saitama, gần Tokyo. 10 năm sau, khi chụp X-quang, người ta mới phát hiện trên thân kiếm có hơn 115 chữ Hán khảm vàng.
Dòng chữ ghi năm Tân Hợi, thường được hiểu là năm 471, và nhắc tới đại vương Wakatakeru, người được cho là Thiên hoàng Yūryaku. Cái tên ấy dường như cũng xuất hiện trên một thanh kiếm khác, tìm thấy ở Kumamoto, tận Kyushu. Từ Kanto đến Kyushu, cùng một đại vương được nhắc tên. Quyền lực ấy gắn chặt với bán đảo Triều Tiên.
Từ đó, sắt, ngựa và những đoàn người di cư theo nhau sang. Họ mang theo chữ viết, nghề nuôi tằm, dệt vải, và về sau là cả đạo Phật. Một cuốn sách phả hệ thế kỷ thứ 9 liệt kê 1.182 dòng họ ở vùng kinh đô, và 317 dòng họ trong số đó có tổ tiên từ bên ngoài. Các đại vương Yamato cũng gửi sứ giả sang Trung Hoa.
Sử nhà Lưu Tống chép về năm vị vua người Oa liên tục xin phong tước. Năm 451, một vị được phong chức trông coi việc quân. Rồi đến giữa thế kỷ thứ 6, vua Thánh Minh của nước Bách Tế gửi sang triều đình Yamato một pho tượng Phật, cờ phướn và kinh sách. Sách Nhật Bản thư kỷ ghi năm 552, có nguồn khác ghi năm 538, và cả 2 mốc đều chưa chắc chắn.
Triều đình chia làm 2 phe. Họ Soga muốn thờ Phật. Họ Mononobe và Nakatomi lo các vị thần bản địa sẽ nổi giận. Cuộc tranh chấp kéo dài mấy chục năm, rồi bùng thành chiến tranh.
Năm 587, phe Soga thắng, và từ đó đạo Phật được triều đình bảo trợ. Với người Việt, có một điều đáng nhớ: khi đạo Phật mới đến Nhật, nó đã có mặt ở nước ta từ rất lâu. Ngay từ cuối thế kỷ thứ 2, Luy Lâu, thủ phủ của quận Giao Chỉ, nay thuộc Bắc Ninh, đã là một trung tâm Phật giáo lớn của khu vực. Các nhà sư Ấn Độ dừng chân ở đây trước khi sang Trung Hoa.
Kinh Phật được dịch ra chữ Hán. Ông Mâu Tử viết sách giảng về đạo Phật, và nhà sư Khương Tăng Hội sinh ra ở Giao Chỉ. Tức là đạo Phật đã có mặt ở Luy Lâu hơn 300 năm trước khi pho tượng của vua Bách Tế cập bến Nhật Bản. Người gắn với thời kỳ mới là thái tử Shōtoku.
Theo sách Nhật Bản thư kỷ, năm 604, ông ban hành Hiến pháp 17 điều. Đó chưa phải là luật theo nghĩa ngày nay, mà là những lời răn đạo đức cho quan lại, pha trộn tư tưởng Phật giáo và Nho giáo. Điều thứ nhất đề cao chữ "hoà". Điều thứ 2 dạy phải tôn kính Phật, Pháp, Tăng.
Năm 607, sứ giả Ono no Imoko mang sang nhà Tuỳ một bức thư mở đầu bằng câu: Thiên tử nơi mặt trời mọc, gửi Thiên tử nơi mặt trời lặn. Hoàng đế Tuỳ Dạng Đế không vui. Cũng cần nói rằng nhiều nhà sử học hiện đại cho rằng không ít công lao của thái tử Shōtoku đã được người đời sau tô vẽ thêm. Dấu tích còn đứng vững của thời ấy là chùa Hōryū-ji ở Nara, gắn với tên thái tử Shōtoku, hoàn thành khoảng năm 607.
Chùa bị sét đánh cháy năm 670, rồi được dựng lại. Ngày nay, điện chính của chùa được nhiều người coi là công trình bằng gỗ cổ nhất thế giới. Năm 2001, đo vòng gỗ cho thấy cây cột tâm của ngôi tháp năm tầng được đốn vào năm 594. Năm 1993, quần thể chùa trở thành Di sản thế giới đầu tiên của Nhật Bản.
Đến cuối thế kỷ thứ 6, những gò mộ hình lỗ khoá thôi không được đắp nữa. Tầng lớp quý tộc dần chuyển sang hoả táng theo đạo Phật. Quyền lực không còn được đo bằng chiều dài của một ngôi mộ, mà bằng chùa chiền, chữ viết và luật lệ học từ lục địa. Và chỉ hơn một thế kỷ sau, triều đình ấy sẽ dựng hẳn một kinh đô theo kiểu thành Trường An của nhà Đường: kinh đô Nara.
16:24 · Kinh đô Nara
Năm 752, ở kinh đô Nara, khoảng 10.000 nhà sư và 4.000 vũ công tụ về chùa Tōdai-ji. Họ dự lễ khai nhãn, tức lễ điểm mắt, cho một pho tượng Phật bằng đồng cao khoảng 16 mét. Người cầm bút điểm mắt là một nhà sư Ấn Độ tên Bodhisena. Và trong số những người dâng múa nhạc hôm ấy, có một nhà sư đến từ một vùng đất mà người Việt rất quen: Lâm Ấp, tức Chiêm Thành, ở miền Trung nước ta ngày nay.
Vậy làm sao chỉ 2 thế kỷ sau thời những gò mộ lỗ khoá, triều đình Yamato đã có thể quy tụ người từ Ấn Độ, Trung Hoa và Lâm Ấp, để dựng nên một công trình như thế? Câu trả lời bắt đầu từ việc học hỏi nhà Đường. Suốt thế kỷ thứ 7 và thứ 8, triều đình nhiều lần cử sứ thần, học giả và nhà sư vượt biển sang Trung Hoa. Chuyến đi rất nguy hiểm, nhiều con thuyền không bao giờ trở về.
Đầu thế kỷ thứ 8, bộ luật Taihō ra đời, phỏng theo luật nhà Đường. Đất nước được chia thành các tỉnh, có quan lại do triều đình bổ nhiệm, có bộ máy cai trị theo kiểu Trung Hoa. Năm 710, triều đình dời đô về Heijō-kyō, chính là Nara ngày nay. Kinh thành mới được quy hoạch theo kiểu thành Trường An của nhà Đường: các đường phố cắt nhau vuông góc như một bàn cờ.
Đại lộ chính Suzaku chạy theo hướng bắc nam dài khoảng 3 cây số 7, rộng khoảng 74 mét. Ở thời cực thịnh, kinh thành có khoảng 50.000 đến 100.000 người. Cũng ở thời này, người Nhật viết những bộ sử đầu tiên của mình: Cổ sự ký năm 712 và Nhật Bản thư kỷ năm 720. Nhưng thời Nara cũng là thời của tai hoạ.
Năm 735, một trận dịch đậu mùa bắt đầu ở Kyushu rồi lan ra khắp nước. Trong khoảng 2 năm, nó cướp đi ước tính khoảng một phần 3 dân số. Năm 737, cả 4 anh em họ Fujiwara, những người quyền lực nhất triều đình, đều qua đời vì dịch. Thêm mất mùa nhiều năm và một cuộc nổi loạn, Thiên hoàng Shōmu tin rằng chỉ có sức mạnh của đạo Phật mới che chở được đất nước.
Năm 743, ông ra chiếu dựng một pho tượng Phật khổng lồ. Theo ghi chép của chùa, hơn 2,6 triệu người đã góp gạo, gỗ, kim loại, vải hoặc công sức, trong đó khoảng 350.000 người trực tiếp làm tượng. Pho tượng ngốn gần hết số đồng của cả nước, còn vàng để thếp phải nhập hoàn toàn từ bên ngoài. Người ta nói việc đúc tượng gần như làm cạn ngân khố.
Còn nhà sư đến từ Lâm Ấp, người Nhật gọi là Buttetsu, người Việt đọc là Phật Triết. Ông từng sang nhà Đường, rồi năm 736 theo lời mời của các nhà sư Nhật mà vượt biển đến Nara, cùng với Bodhisena. Ông sống ở chùa Daian-ji. Tương truyền, chính ông đã dạy cho người Nhật dòng nhạc múa gọi là Lâm Ấp nhạc, được trình diễn trong lễ khai nhãn năm 752.
Đến nay, mỗi tháng 12, những điệu múa được cho là do ông truyền lại vẫn còn được biểu diễn ở lễ hội đền Kasuga tại Nara. Cũng có một người Nhật đi theo chiều ngược lại. Abe no Nakamaro sang nhà Đường năm 717, đỗ khoa cử và làm quan ở Trường An. Ông là bạn thân của 2 nhà thơ lớn Lý Bạch và Vương Duy.
Trên đường về nước cùng đoàn sứ thần, thuyền của ông gặp bão, trôi dạt tới Hoan Châu, nay thuộc Nghệ An. Nhiều người trên thuyền bị giết, ông may mắn thoát chết và quay lại Trường An. Lý Bạch tưởng bạn đã mất, còn làm thơ khóc thương. Theo nhiều nguồn, từ năm 761 đến 767, ông được nhà Đường cử làm quan đô hộ ở An Nam, đóng ở vùng Hà Nội ngày nay.
Ông mất ở Trường An khoảng năm 770, không bao giờ về lại quê hương. Bài thơ nhớ nhà của ông, về vầng trăng trên núi Mikasa ở Nara, đến nay vẫn được người Nhật thuộc lòng. Nara là nơi người Nhật học từ lục địa nhiều nhất: luật lệ, chữ viết, kiến trúc, và trên hết là đạo Phật. Nhưng các ngôi chùa lớn ở Nara cũng ngày càng can dự vào chính sự, và triều đình muốn giữ khoảng cách.
Năm 784, kinh đô rời khỏi Nara. 10 năm sau, một kinh đô mới được dựng lên ở phía bắc, và từ đó, người Nhật bắt đầu tìm ra tiếng nói của riêng mình.
20:59 · Heian, kana và Truyện Genji
Khoảng năm 1000, trong hoàng cung ở kinh đô Heian, 2 người phụ nữ đang cầm bút. Một người là Sei Shōnagon, nữ quan hầu Hoàng hậu Teishi, viết những ghi chép sắc sảo về đời sống cung đình, gọi là Sách gối đầu. Người kia là Murasaki Shikibu, cũng là nữ quan, viết một câu chuyện dài 54 chương về chàng hoàng tử Genji. Cả 2 không viết bằng chữ Hán, thứ chữ của triều đình và đàn ông, mà bằng một thứ chữ mới: hiragana.
Vậy sau nhiều thế kỷ học chữ Hán, người Nhật đã tạo ra chữ viết của riêng mình như thế nào? Và vì sao những tác phẩm lớn nhất thời ấy lại do phụ nữ viết? Năm 794, Thiên hoàng Kanmu dời đô về Heian-kyō, chính là Kyoto ngày nay. Heian nghĩa là bình an.
Kinh thành mới vẫn được quy hoạch theo kiểu ô bàn cờ như Nara, và sẽ là kinh đô của Nhật Bản suốt hơn 1.000 năm. Thời kỳ Heian kéo dài gần 4 thế kỷ, đến năm 1185. Trong thời gian này, Nhật Bản dần thưa những chuyến sứ thần sang Trung Hoa. Chuyến đi cuối cùng sang nhà Đường là vào năm 838, và đến cuối thế kỷ thứ 9 thì các chuyến đi bị dừng hẳn.
Những gì đã học từ lục địa bắt đầu được người Nhật biến đổi theo cách của mình. Và thay đổi lớn nhất nằm ở chữ viết. Tiếng Nhật và tiếng Hán rất khác nhau về ngữ pháp. Để ghi tiếng Nhật, người ta mượn chữ Hán chỉ để lấy âm.
Nhưng không có quy tắc chung: trong tập thơ Vạn diệp tập, có gần 20 chữ Hán khác nhau cùng được dùng để ghi một âm "ka". Qua thời gian, những chữ mượn âm ấy được giản lược thành 2 bộ chữ ghi âm. Hiragana ra đời từ lối viết thảo của chữ Hán, mềm mại, tròn trịa. Katakana được tạo ra bằng cách lấy một phần của chữ Hán, ban đầu các nhà sư dùng để ghi chú cách đọc bên cạnh kinh Phật.
Đàn ông trong triều vẫn viết công văn và thơ bằng chữ Hán. Hiragana khi ấy được gọi là "chữ của phụ nữ". Chính vì thế mà phụ nữ quý tộc, những người được học kana, lại có trong tay một công cụ để viết bằng chính tiếng mẹ đẻ. Năm 935, một nhà thơ nổi tiếng là Ki no Tsurayuki viết nhật ký chuyến đi từ Tosa về kinh bằng kana, và ông phải mượn giọng một người phụ nữ để kể.
Lúc ấy, quyền lực thật sự trong triều nằm trong tay dòng họ Fujiwara. Họ gả con gái cho Thiên hoàng, rồi làm nhiếp chính cho chính cháu ngoại của mình. Fujiwara no Michinaga có các con gái làm hoàng hậu, phi tần của nhiều đời Thiên hoàng, và 2 người cháu ngoại lên ngôi. Mỗi hoàng hậu cần những nữ quan có học quanh mình, và cuộc cạnh tranh giữa các phe trong cung cũng là cuộc cạnh tranh của văn chương.
Murasaki Shikibu sống giữa thế giới ấy, và nhiều người cho rằng chàng Genji được xây dựng một phần từ hình mẫu Michinaga. Truyện Genji hoàn thành trước năm 1021, và thường được gọi là một trong những tiểu thuyết đầu tiên của thế giới. Với người Việt, bài toán ấy rất quen. Tổ tiên ta cũng phải ghi tiếng Việt bằng chữ Hán, nhưng đi theo một con đường khác.
Thay vì giản lược thành chữ ghi âm, người Việt ghép các thành phần chữ Hán để tạo ra những chữ mới, vừa gợi âm vừa gợi nghĩa: đó là chữ Nôm. Một trong những dấu tích sớm của chữ Nôm là tấm bia chùa Báo Ân, có niên đại gốc năm 1209. Chữ Nôm phát triển rực rỡ trong văn chương từ thế kỷ 15 đến 19, với đỉnh cao là Truyện Kiều. Cùng một nguồn chữ Hán, người Nhật đi tới chữ ghi âm, còn người Việt đi tới chữ Nôm, 2 cách "bản địa hoá" chữ viết rất khác nhau.
Nhưng phía sau vẻ thanh nhã của cung đình Heian, quyền lực đang dần trôi ra khỏi kinh đô. Những trang viên lớn của quý tộc và nhà chùa thoát khỏi sự kiểm soát và thuế của triều đình. Ở các tỉnh xa, những người cầm vũ khí bảo vệ ruộng đất ngày càng mạnh. Họ sẽ là những samurai đầu tiên.
25:11 · Bình minh của samurai
Năm 1185, trên eo biển Kanmon, nơi đảo Honshu gần chạm vào Kyushu, 2 hạm đội lao vào nhau. Một bên là họ Taira, một bên là họ Minamoto. Buổi sáng, dòng nước chảy thuận cho họ Taira. Nhưng đến chiều, nước đổi chiều.
Một tướng bên Taira trở giáo, chỉ cho đối phương con thuyền chở Thiên hoàng. Khi thua đã rõ, bà nội của Thiên hoàng ôm cậu bé khoảng 6 tuổi gieo mình xuống biển. Cùng chìm theo là thanh kiếm, một trong 3 báu vật tượng trưng cho ngôi vua Nhật Bản. Vậy làm sao những người lính, vốn chỉ canh giữ ruộng đất cho quý tộc, lại trở thành những người quyết định cả số phận của Thiên hoàng?
Câu chuyện bắt đầu từ chính triều đình Heian. Năm 792, triều đình bỏ chế độ trưng binh trên cả nước. Việc giữ yên các vùng quê được giao cho những gia đình giàu có ở tỉnh, những người tự nuôi ngựa, tự luyện cung và có ruộng đất riêng để bảo vệ. Họ là những cung thủ cưỡi ngựa, phục vụ cho các quý tộc và trang viên.
Chữ samurai có lẽ bắt nguồn từ một động từ tiếng Nhật cổ có nghĩa là "hầu cận", "phục vụ". 2 dòng họ võ sĩ lớn nhất lại có gốc từ hoàng tộc. Đầu thế kỷ thứ 9, một số hoàng thân bị tách khỏi hoàng tộc và lập nên họ Minamoto, rồi họ Taira. Các gia đình võ sĩ ở tỉnh tìm cách gắn bó với 2 dòng họ này để có danh phận, và dần dần mỗi bên có cả một đội quân trung thành.
Năm 1160, sau một cuộc nổi loạn thất bại, họ Minamoto bị đánh bật. Người thắng là Taira no Kiyomori. Năm 1167, ông trở thành võ sĩ đầu tiên giữ chức quan cao nhất trong triều. Kiyomori làm đúng như họ Fujiwara từng làm: gả con gái cho Thiên hoàng, rồi năm 1180 đưa đứa cháu ngoại còn nhỏ lên ngôi.
Đó chính là Thiên hoàng Antoku. Cùng năm ấy, một hoàng tử kêu gọi diệt họ Taira, và cuộc chiến tranh Genpei bùng nổ. Minamoto no Yoritomo tập hợp lực lượng ở miền đông. Năm 1183, quân Minamoto tiến vào Kyoto, họ Taira mang theo vị Thiên hoàng nhỏ tuổi và các báu vật chạy về phía tây.
Em trai của Yoritomo là Yoshitsune đuổi theo, thắng liên tiếp, và dồn họ Taira ra biển, đến trận cuối cùng ở Dan-no-ura. Với người Việt, một trận thuỷ chiến mà dòng nước quyết định thắng thua gợi nhớ ngay trận Bạch Đằng. Năm 938, Ngô Quyền cho đóng những cọc gỗ lớn bịt sắt xuống lòng sông. Khi nước lên, cọc bị che khuất.
Thuyền ta nhử hạm đội Nam Hán vào sâu, rồi khi nước rút, cọc nhô lên, thuyền giặc mắc kẹt và tan vỡ. Trận ấy chấm dứt thời Bắc thuộc. 2 trận đánh cách nhau 2 thế kỷ rưỡi, ở 2 đầu biển Đông Á, đều có dòng nước đứng về phía người thắng: một trận mở ra nền độc lập, một trận chấm dứt cả một dòng họ. Sau Dan-no-ura, Yoritomo không về Kyoto.
Ông lập chính quyền của mình ở Kamakura, nơi đóng quân của ông ở miền đông. Năm 1192, ông nhận danh hiệu Chinh di đại tướng quân, tức shōgun. Thiên hoàng vẫn ở Kyoto, nhưng quyền lực thật sự đã thuộc về giới võ sĩ, và sẽ thuộc về họ gần 7 thế kỷ, cho đến năm 1868. Truyện Bình gia, bộ sử thi kể về sự sụp đổ của họ Taira, mở đầu bằng tiếng chuông chùa nhắc rằng mọi thứ trên đời đều vô thường, kẻ kiêu hãnh rồi cũng không bền lâu.
Từ những người đầu tiên chèo thuyền đến quần đảo, đến những làng trồng lúa, những ngôi mộ lỗ khoá, kinh đô Nara và cung đình Heian, Nhật Bản đã đi một chặng đường dài. Và giờ đây, đất nước bước vào thời của samurai. Gần một thế kỷ sau, chính những samurai ấy sẽ phải đối mặt với đội quân hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ: quân Mông Cổ, đúng vào lúc ở phương nam, Đại Việt cũng đang chuẩn bị cho những trận chiến của mình. Đó sẽ là câu chuyện của Phần 3.
29:26 · Kết thúc
Nguồn ảnh và tư liệu (145 mục)
Ảnh và clip lấy từ Wikimedia Commons (kèm giấy phép từng tệp) và Pixabay; cảnh dựng bằng máy tính là dựng lại minh hoạ.
CC BY (11)
- 140913 Sannai-Maruyama site Aomori Japan01bs6bs6 – 663highland CC BY 2.5
- 御所野遺跡高床式倉庫 – 小池 隆 CC BY 3.0
- Ishibutai-kofun Asuka Nara pref05n4592 – 663highland CC BY 2.5
- Horyu-ji02s3200 – 663highland CC BY 2.5
- Horyu-ji10s3200 – 663highland CC BY 2.5
- Stone lanterns in Kasuga-taisha-1 – Immanuelle CC BY 4.0
- Heian Shrine, Daigokuden (Worship Hall) -1 (November 2008) - panoramio – ttshr1970 CC BY 3.0
- Maizuru Park The Man-yōshū poetry monument Man-yōshū Book 15 Poem 3655 Jōnai Chūō-ku Fukuoka 20260721 – Hirho CC BY 4.0
- Glyphwiki Chữ Nôm (vertical) – Malboy1611 CC BY 4.0
- Horyu-ji46n3990 – 663highland CC BY 2.5
- Portrait of Prince Mochihito copied by Ninagawa Chikatane (Noritane) – Unknown authorUnknown author CC BY 4.0
CC BY-SA (45)
- Pyramid shaped stone tools 18-13ka Oimatsuyama Saga – Pekachu CC BY-SA 4.0
- JapanesePaleolithic VariousChippedStoneTools – サフィル CC BY-SA 4.0
- Odai Yamamoto I potsherds – Mccunicano CC BY-SA 4.0
- Final Jomon Pottery of Tohoku District 1.Tokyo National Museum – Ismoon CC BY-SA 4.0
- Sannai Maruyama Site Map – Vacr CC BY-SA 3.0
- Six-pillared building IMG 20161009 134154 – G41rn8 CC BY-SA 4.0
- Six-pillared building IMG 20161009 134346 – G41rn8 CC BY-SA 4.0
- Six-pillared building IMG 20161009 134909 – G41rn8 CC BY-SA 4.0
- Dogu figurine-EO 2907-IMG 9037-gradient – Rama CC BY-SA 3.0 fr
- Lang Rongrien Exterior 2 – Noel Hidalgo Tan CC BY-SA 4.0
- MDDS 04.0001 Kapak Genggam 02 – Museumdaerah.deliserdang CC BY-SA 4.0
- King of Na gold seal faces – PHGCOM CC BY-SA 3.0
- Hakata Promenade of History the seal imprint made from the replica of King of Na Gold Seal Fukuoka 20230912 – Hirho CC BY-SA 4.0
- Futatsumori Kaizuka1 – MChew CC BY-SA 4.0
- Excavation place of Yayoi pottery at Tsuchiyama town – Motokoka CC BY-SA 4.0
- Renkomon "Seihaku" Meikyo bronze mirror Futazukayama Saga – Pekachu CC BY-SA 4.0
- Dōtaku (Bronze Bell) MET DT11855 cropped2 – http://www.metmuseum.org/art/collection/ CC BY-SA 4.0
- Kagoshima-jingu Auxiliary-Shrine Himiko-jinja 001 – Naokijp CC BY-SA 4.0
- Shijukyo bronze mirror Kumamotoyama-kofun Saga – Pekachu CC BY-SA 4.0
- Great Sphinx of Giza (أبو الهول) – Petar Milošević CC BY-SA 4.0
- Goshikizuka kofun 2021-11-28 4 – m-louis .® CC BY-SA 2.0
- Inariyama Kofun – Hotsuregua CC BY-SA 3.0
- Haniwa House (Misono kofun) – Kakidai CC BY-SA 4.0
- Haniwa Horse with a Flag (1) – Kakidai CC BY-SA 4.0
- ChuaDau Chinh – Bùi Thế Tâm CC BY-SA 3.0
- ChuaDau PhapVu – Bùi Thế Tâm CC BY-SA 3.0
- Hōryū-ji Kondō, June 7th, 2019 – Cun Cun CC BY-SA 4.0
- Horyu-ji, November 2016 – Martin Falbisoner CC BY-SA 4.0
- Xi'an City Walls (50614041857) – Hugh Llewelyn from Keynsham CC BY-SA 2.0
- 平城宮跡・遣唐使船(復元) - panoramio – kcomiida CC BY-SA 3.0
- Heijokyo Suzakumon 05 – KENPEI CC BY-SA 3.0
- 平城宮跡・第一次大極殿(2010-10-11) - panoramio – kcomiida CC BY-SA 3.0
- Kojiki kan-ei-ban – しんぎんぐきゃっと CC BY-SA 4.0
- Daibutsu Grand bouddha - Tōdai-ji - Nara – Gilles Desjardins CC BY-SA 4.0
- Great Buddha at Todaiji, Nara – Manishprabhune CC BY-SA 4.0
- Motonobu Nakagawa, Mayor of Nara – NNDDD CC BY-SA 4.0
- Origin of Hiragana from Cursive Kanji Chart – Quinlan718 CC BY-SA 4.0
- Japanese embassy to the Tang court – PHGCOM CC BY-SA 3.0
- Origin of Katakana from Kanji Chart – Quinlan718 CC BY-SA 4.0
- Imperial Throne of Shishinden in Kyoto Imperial Palace – Wikiwikiyarou CC BY-SA 4.0
- The Tale of Kieu 1902 – Lachy70 CC BY-SA 4.0
- Akama Shrine in Shimonoseki, Yamaguchi – そらみみ CC BY-SA 3.0
- Torii of Akama Shrine 20150621 – そらみみ CC BY-SA 4.0
- 2014-09-01 stele of the site of Battle of Dan-no-ura in Mimosusogawa Park with Kanmon Bridge in background – Cheng-en Cheng CC BY-SA 2.0
- Tượng Ngô Quyền tại Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội năm 2017 – Phương Huy CC BY-SA 4.0
Phạm vi công cộng / CC0 (72)
- 円筒形深鉢土器-Deep Vessel MET DP246467 – không rõ tác giả CC0
- Omori Shell Mound Monument - Omori, Tokyo, Japan - DSC05597 – Daderot CC0
- Jomon Vessel with Flame-like Ornamentation, attributed provenance Umataka, Nagaoka-shi, Niigata, Jomon period, – Daderot CC0
- Edward Sylvester Morse - Frank Benson (PEM M4311) – Frank Weston Benson Public domain
- Portrait of Madeleine Colani (1866-1943) – Institut indochinois pour l'étude de l'h Public domain
- 登呂遺跡 - Flickr – Owl Cat CC0
- 登呂遺跡 - 52745410440 – Owl Cat CC0
- Fragment of dotaku (a bronze bell) handle (Toukannonji Temple) – Unknown author Public domain
- Tambour-song-da2 – không rõ tác giả Public domain
- Dong Son Bronze Drum (9980594733) – Gary Todd from Xinzheng CC0
- Cover of Ngoc Lu jar, from about 2500 years ago - Vietnam National Museum of Fine Arts - Hanoi, Vietnam - DSC0 – Daderot CC0
- Ngoc Lu – VuThiAnh Public domain
- Text of the Wei Zhi (魏志), 297 – không rõ tác giả Public domain
- Hashihaka-kofun zenkei – Saigen Jiro CC0
- Makimuku Site, tatemonogun – Saigen Jiro CC0
- Haisho of Daisenryo Kofun, Mozu Kofun Group – Sakai Yayoi CC0
- Mozu Kofun Group zenkei-2 – Saigen Jiro CC0
- Daisenryo Kofun from balloon – Sakai Yayoi CC0
- Hashihaka-kofun zenkei-2 – Saigen Jiro CC0
- Goshiki-zuka Kofun, zenkei-2 – Saigen Jiro CC0
- World Heritage monument of Mozu-Furuichi Kofun Group 01 – Asset utilitist CC0
- 西都原古墳群出土 埴輪 子持家 – Saigen Jiro Public domain
- Clevelandart 1957.27 – không rõ tác giả CC0
- Visored helmet, Nihonmatsuyama Tumulus, Eiheiji-cho, Fukui, Kofun period, 400s AD, iron, gilt-bronze - Tokyo N – Daderot Public domain
- Inariyama sword 002 – Ocdp CC0
- Inariyama sword 001 – Ocdp CC0
- Head and Torso of a Dancing Figure, 5th-7th century AD, Japan, earthenware - Art Institute of Chicago - DSC001 – Daderot CC0
- Gilt Bronze Buddha, Three Kingdoms Baekje (17132864784) – Gary Todd from Xinzheng CC0
- Apsara Horyuji1 – BENRIDO Public domain
- Horyu-ji Kondo and Five-story Pagoda 2022 – ONO Masanobu CC0
- Soga no Umako – không rõ tác giả Public domain
- Portrait of Prince Shōtoku and Two Princes – 伝・阿佐太子 Public domain
- Grave of Ono-no-Imoko-1 – Saigen Jiro CC0
- Todai-ji Daibutsuden front view in 2011 – ONO Masanobu CC0
- 20190121 Tōdai-ji Great Buddha-2 – Balon Greyjoy CC0
- 220325 One-thousandth scale model of Heijo Kyo – 名古屋太郎 CC0
- Daian-ji Nara 029 – Brakeet CC0
- Nenju-gyoji-emaki choukin-gyoukou – 住吉如慶 Public domain
- 百人一首 宇波かゑとき 安部仲麿-Poem by Abe no Nakamaro, from the series One Hundred Poems Explained by the Nurse (Hyakunin i – Katsushika Hokusai CC0
- Li Bai in stroll – Liang Kai Public domain
- Emperor Shomu – Unknown authorUnknown author Public domain
- Abe-no-nakamaro – Katsushika Hokusai Public domain
- Wang Wei 001 – Wang Wei Public domain
- Kyoto-gosho Shishinden zenkei-5 – Saigen Jiro CC0
- The Poetess Shōnagon with Her Attendants by Hishikawa Moronobu by Hishikawa Moronobu, Honolulu Museum of Art – Hishikawa Moronobu Public domain
- Murasaki Shikibu Nikki Gotoh1 detail – Unknown authorUnknown author Public domain
- Model of Rokushoji in Shirakawa – 名古屋太郎 CC0
- Murasaki Shikibu Nikki Gotoh2 detail – Unknown authorUnknown author Public domain
- Ki no Tsurayuki (titel op object) Vergelijkingen met de honderd Ogura gedichten (serietitel) Ogura nazorae hya – Rijksmuseum CC0
- Pillow Book Illustrated5 – Unknown authorUnknown author Public domain
- Murasaki Shikibu Nikki Emaki4L – Unknown authorUnknown author Public domain
- Tosa Mitsuoki 001 – Tosa Mitsuoki Public domain
- Genji emaki Yadorigi – Imperial court in Kyoto. The handscroll Public domain
- Chữ nôm giản thể (Simplified Chu Nom) 7 – Nocarebearsgiven CC0
- Truyện kiều còn tiếng ta còn – little girl with a big cardiac arrest CC0
- Heiji Monogatari Emaki - Sanjo scroll part 5 - v2 – Unknown authorUnknown author Public domain
- Sei Shônagon (titel op object) Vergelijkingen met de honderd Ogura gedichten (serietitel) Ogura nazorae hyakun – Rijksmuseum CC0
- Emperor Kammu large – Unknown Public domain
- Detached segment of Murasaki Shikibu Emaki crop – Unknown authorUnknown author Public domain
- AntokuTennou Engi.7&8 Dannoura Kassen – Tosa Mitsunobu Public domain
- Heiji Monogatari Emaki - Sanjo scroll part 7 – Unknown authorUnknown author Public domain
- Daidairi of Heiankyo – Wikiwikiyarou Public domain
- Zushi Yabusame 2010 11 – Urashimataro Public domain
- Emperor Saga large – Unknown Public domain
- Maru ni sasarindō – 赤口利之助三郎 CC0
- Oyamazumi Jinsha Armor (401) – Imperial Japanese Commission to the Pana Public domain
- Taira no Kiyomori LCCN2008660375 – Taiso Public domain
- The Fever of Taira no Kiyomori LACMA M.84.31.77a-c – Yoshitoshi Public domain
- Ngo Quyen (897-944) Defeated Southern Han Invasion at Bach Dang River, 938, Led to Viet Independence (97321080 – Gary Todd from Xinzheng CC0
- Stakes Used to Repel Mongol Invasion at Bach Dang River, 1288 (9735656156) – Gary Todd from Xinzheng CC0
- Minamoto no Yoritomo hanging scroll painting 14th century – unknown Public domain
- Minamoto no Yoshitsune – Unknown authorUnknown author Public domain
Pixabay Content License (video) (15)
- Pixabay #135658 – Natures_Embrace Pixabay Content License
- Pixabay #189813 – Matthias_Groeneveld Pixabay Content License
- Pixabay #29485 – Engin_Akyurt Pixabay Content License
- Pixabay #257593 – JoshuaWoroniecki Pixabay Content License
- Pixabay #43612 – MingMedia Pixabay Content License
- Pixabay #42088 – MingMedia Pixabay Content License
- Pixabay #144317 – Nightwolfone Pixabay Content License
- Pixabay #281618 – Kanenori Pixabay Content License
- Pixabay #34608 – bellergy Pixabay Content License
- Pixabay #49981 – Matthias_Groeneveld Pixabay Content License
- Pixabay #7335 – GrandStudio Pixabay Content License
- Pixabay #7093 – Hans Pixabay Content License
- Pixabay #71122 – RostislavUzunov Pixabay Content License
- Pixabay #201766 – JoshuaWoroniecki Pixabay Content License
- Pixabay #51914 – Close-UpStock Pixabay Content License
Khác: Attribution (2)
- Daisen-nintoku stereo – 国土交通省 Attribution
- Mozu Kofun Group Aerial photograph 2007 – 国土地理院 Attribution
Nhận thư báo khi có Phần mới
Mỗi tuần một Phần vào tối Chủ nhật. Thư ngắn, kèm bảng nguồn tư liệu. Không quảng cáo.
Email của bạn được gửi tới dịch vụ Buttondown để gửi thư. Bạn huỷ đăng ký bất cứ lúc nào bằng liên kết trong thư.